Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện lạ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyện lạ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

Mọi thứ trong vũ trụ đều được tạo thành từ những rung động


Giới vật lý lượng tử đã phát hiện ra rằng các nguyên tử vật lý được tạo thành từ vô số các xoáy năng lượng được gọi là các hạt quark và photon, các xoáy năng lượng này liên tục quay và rung động, mỗi cái đều phát ra đặc tính năng lượng duy nhất (unique energy signature) của mình. Đây là những gì tạo nên cấu trúc nguyên tử. Khi quan sát gần hơn, ta sẽ không thấy gì cả, mà chỉ thấy một khoảng trống vật lý. Nguyên tử không có cấu trúc vật lý, vật chất thực sự không có cấu trúc vật lý nào cả. Nguyên tử được tạo ra từ năng lượng vô hình, không phải từ vật chất hữu hình.
Cha đẻ của lý thuyết lượng tử, Tiến sỹ Max Planck, người nhận giải Nobel vật lý năm 1918, có kết luận: không có bất cứ vật chất nào tồn tại trên thế giới, và vật chất được cấu tạo từ các lượng tử rung động liên tục.



Khoa học hiện đại cũng xác nhận mối quan hệ giữa năng lượng và vật chất, nổi tiếng nhất là công thức E=mc2 của Einstein (E là năng lượng, m là khối lượng, c là vận tốc ánh sáng).

Tuy nhiên, con người bị giới hạn trong cảm quan vốn quen tiếp xúc với không gian 3 chiều và khái niệm thời gian tuyến tính; vật lý cổ điển của Newton cho rằng thực thể và vật chất có cùng biên giới, còn James C. Maxwell cho rằng thực thể và vật chất có cùng trường năng lượng liên tục và thăng giáng. Cả hai đều trở thành 2 trụ cột lớn của vật lý học cổ điển cuối thế kỷ 19.

Tuy nhiên, khi các nhà khoa học khám phá sâu hơn lĩnh vực nguyên tử, hoặc khi khám phá vũ trụ bao la, họ phát hiện rằng bản chất của vật chất và năng lượng là điều vượt ra ngoài hiểu biết, kinh nghiệm và giác quan của con người. Cơ học lượng tử và thuyết tương đối xuất hiện đầu thế kỷ 20 cũng hoàn toàn phản đảo lại nhận thức về không gian của vật lý học và cơ học cổ điển. Nổi tiếng nhất là công thức của Planck: E=hv (E là năng lượng của mỗi lượng tử, h là hằng số Planck – hằng số lượng tử Planck, v là tần số dao động của lượng tử), vì h là hằng số nên lượng tử có tần số dao động càng cao thì năng lượng của nó càng lớn.


Theo đó, tất cả các vật chất hữu hình lẫn vật chất vô hình đều là các năng lượng liên tục rung động. Sự khác biệt giữa chúng là tần số dao động khác nhau, và do đó, các vật chất khác nhau có ý thức khác nhau và hình thức được tạo ra khác nhau. Vật chất có tần số rung động cao trở thành những vật chất vô hình, như suy nghĩ, cảm xúc và ý thức của con người. Vật chất có tần số rung động thấp trở thành những thứ hữu hình như bàn, ghế và cơ thể người, những thứ có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Con người đồng thời tồn tại trong 2 dạng thế giới khác nhau, trên đầu là thế giới tinh thần có tầng thứ cao, dưới chân là thế giới thực thể vật chất hóa, con người có nhục thể nhưng cũng có linh thể. Mới thoạt nghe, “linh thể” và “nhục thể” là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau, nhưng linh thể và nhục thể không phải là không có liên hệ gì, bởi vật chất là năng lượng, vật chất hữu hình và vô hình là năng lượng không ngừng dao động, sự khác nhau của chúng là tần số dao động khác nhau, từ đó mà sinh ra vật chất khác nhau có dạng thức hoặc hình thức khác nhau.

Về vật chất, năng lượng (cái mà chúng ta vẫn nói là “khí” hay rung động trong vật lý), Kybalion – giáo lý bí truyền của các tư tế Ai Cập cổ đại đã nói về “nguyên lý rung động” như sau: “Không có gì đứng yên, mọi thứ đều đang chuyển động, mọi thứ đều rung động.”


>> Vật chất và ý thức là một thể thống nhất

Lý thuyết về mức năng lượng của David Hawkins
Thông tin ở trên khiến cho ta có nhận định rằng: chúng ta đều là năng lượng, tỏa ra đặc tính năng lượng duy nhất của riêng mỗi người. Cảm nhận, suy nghĩ và cảm xúc đóng một vai trò quan trọng, vật lý lượng tử giúp chúng ta thấy tầm quan trọng của cách chúng ta cảm nhận. Nếu nội tâm chúng ta đang đầy yêu thương, bình hòa, chắc chắn nó sẽ tác động đến thế giới xung quanh chúng ta, và ảnh hưởng đến cảm giác của người khác.

“Nếu bạn muốn biết những bí mật của vũ trụ, hãy suy nghĩ về năng lượng, tần số và rung động.” – Nikola Tesla.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những cảm xúc tích cực và hành động từ một nội tâm yên bình có thể dẫn đến một trải nghiệm rất khác cho người phát ra những cảm xúc đó và cho những người xung quanh. Ở mức hạ nguyên tử của chúng ta, tần số dao động có thay đổi biểu hiện của thực tại vật lý không? Nếu có, thì theo cách nào? Chúng ta biết rằng khi một nguyên tử thay đổi trạng thái của nó, nó hấp thụ hoặc phát ra các tần số điện từ, tương ứng với các thay đổi về trạng thái của nó.

Các nhà khoa học ở Viện HeartMath đã chứng minh rằng các trạng thái cảm xúc, nhận thức và cảm nhận khác nhau của mỗi người sẽ tạo ra các tần số điện từ khác nhau từ cơ thể họ.

Trường điện từ sinh học tạo ra bởi trái tim mỗi người có thể kết nỗi với nhau 
Sở dĩ chúng ta thường nghĩ rằng “vật chất và năng lượng” hoặc “cơ thể và tinh thần” là hoàn toàn khác nhau, là bởi vì con người chúng ta có chế độ suy nghĩ nhị phân (lưỡng cực). Những điều chúng ta biết hầu như chỉ là tất cả tri thức và tư duy logic mà chúng ta có được. Và những tri thức và tư duy logic hình thành nên những suy nghĩ, sự suy nghĩ trở thành nền tảng của ngôn ngữ. Mô hình này khiến cho con người có suy nghĩ hai chiều. Do đó, trong thế giới của con người có “thiện” có “ác”, có “đúng” thì tự nhiên cũng có “sai”, có “tốt” thì ắt có “xấu”, có “vui vẻ” đương nhiên cũng có “đau khổ”, tất cả đều có mặt đối lập của nó.
Nghiên cứu “Lý thuyết mức năng lượng” của Tiến sỹ David R. Hawkins, nhà tâm thần học người Mỹ cho thấy, một người có mức năng lượng tốt thì có tần số cao, ngược lại mức năng lượng thấp thì tần số thấp. Và mức năng lượng của họ tương ứng với cảm xúc hay cảnh giới tinh thần của họ. Cụ thể:

Giác ngộ: 700 ~ 1000
Điềm tĩnh, thanh thản: 600
Vui vẻ, thanh tĩnh: 540
Tình yêu và sự tôn kính: 500
Lý tính, thấu hiểu: 400
Khoan dung độ lượng: 350
Hy vọng lạc quan: 310
Lòng tin cậy: 250
Can đảm: 200
Tự cao, khinh thường: 175
Căm ghét, thù hận: 150
Dục vọng, khao khát: 125
Sợ hãi, lo lắng: 100
Đau buồn, tiếc nuối: 75
Thờ ơ, tuyệt vọng: 50
Nhục nhã, hổ thẹn: 20
Người có tần số nhỏ hơn 10 khả năng cao là gặp vấn đề về sức khỏe như các bệnh mãn tính, hoặc bệnh nặng.


                Người có có tần số gần bằng 0 là những người đang cận kề bờ vực của cái chết.
Các cảnh giới khác nhau có năng lượng khác nhau

Vì thế, cổ nhân nói “sinh mệnh đang vận động”, dù là “nội tĩnh ngoại động” (thể dục) hay là “ngoại tĩnh trong động” (thiền định) thì đều chính xác.

Lấy một ví dụ, vật chất và năng lượng giống như hai cực của một thể liên tục (continum), một cực là đen, một cực là trắng, nằm giữa 2 cực là màu xám. Màu xám có đặc điểm trắng đen của 2 cực bao gồm từ màu xám trắng phát triển đến màu xám đen, hiện tượng này giống như điều được nói trong “nguyên lý lưỡng cực” của “triết học”: “Mọi thứ đều theo cặp, mọi thứ đều có 2 cực, mọi thứ đều có mặt đối lập, tương đồng và không không tương đồng cũng như vậy. Những thứ tương phản về cơ bản là giống nhau, chỉ là thể hiện ra sự khác nhau về mức độ, hai trạng thái cực đoan sẽ gặp nhau, tất cả chân lý chẳng qua chỉ là một nửa chân lý, tất cả mâu thuẫn có lẽ cũng là đang điều hòa lẫn nhau.

Xét theo nghiên cứu tâm linh (Psychic Research) và nghiên cứu y học mà nói, tần số dao động năng lượng cao là thuộc về bậc Giác Ngộ ở cảnh giới tư tưởng cao; khi tần số dao động thấp, sinh ra vật chất thô và nặng ví dụ như thân xác thịt của con người. Thân xác thịt ở không gian 4 chiều của nhân loại là có tần số thấp nhất.

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2018

Trải nghiệm cận tử

Trải nghiệm thế giới bên kia
Trải nghiệm ở bên ngoài thân xác (OBE) và trải nghiệm cận tử (NDE) đã được biết đến từ lâu và vẫn bị tranh cãi, đơn giản bởi giới khoa học chủ lưu không tin là có linh hồn. Tuy nhiên, thật thú vị khi nghe một bác sĩ hàng đầu thế giới nói về trải nghiệm OBE và NDE của chính mình. 

Giáo sư bác sĩ George G. Ritchie (1923 - 2007) 

Giáo sư bác sĩ George G. Ritchie (25.9.1923 - 29.10.2007) từng là chủ tịch của Học viện Trị liệu đa khoa Richmond, từng là trưởng khoa Tâm thần học của Bệnh viện Towers, người sáng lập và và chủ tịch Liên Đoàn Thanh niên Thế giới (Universal Youth Corps, inc) trong gần 20 năm
Năm 1967, ông làm bác sỹ tư ở Richmond, năm 1983 ông chuyển đến Anniston, Alabama làm trưởng khoa Tâm thần học tại Trung tâm y tế khu vực Đông Bắc Alabama, Hoa Kỳ. Ông trở về Richmond vào năm 1986 để tiếp tục làm bác sĩ tư cho đến khi nghỉ ngơi vào năm 1992.
Bác sĩ George Ritchie đã kể lại rất chi tiết những gì mà ông đã trải qua trong suốt khoảng thời gian ông chết. Đó là vào khoảng đầu tháng 12/1943, khi Ritchie được chuyển tới một bệnh viện tại trại Barkeley, Texas, Hoa Kỳ để điều trị bệnh viêm phổi.
Ông không biết là mình bệnh nặng tới mức nào. Ông luôn chỉ nghĩ tới việc bình phục cho mau chóng mà lên xe lửa tới Richmond, Virginia để nhập học trường y trong chương trình đào tạo bác sĩ quân y của quân đội. Theo lịch hẹn, vào lúc 4 giờ sáng ngày 20/12, xe quân đội sẽ đến đưa ông ra nhà ga để tới trường.
Vào đêm ngày 19.12.1943, bệnh của Ritchie trở nên nặng hơn. Ông bắt đầu sốt và ho liên tục. Ông đã lấy gối bịt miệng lại để đỡ làm ồn và ảnh hưởng đến người khác. 3 giờ sáng ngày 20, Ritchie cố gắng đứng dậy và thay quần áo đợi xe đến, nhưng ông không thể làm được và bất tỉnh ngay sau đó.
"Khi tôi mở mắt ra, tôi thấy mình đang nằm trong một căn phòng mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Một ngọn lửa nhỏ cháy trong một ngọn đèn ở bên cạnh. Tôi nằm đó một lúc, cố gắng nhớ lại là mình đang ở đâu. Thình lình tôi ngồi bật dậy. Xe lửa! Mình trễ chuyến tàu mất!", ông Ritchie chi biết.
Giờ đây tôi biết rằng những gì mình sắp mô tả sẽ nghe rất lạ thường... tất cả những gì tôi có thể làm là kể lại những sự kiện đêm đó đúng như những gì mà chúng đã xảy ra. Tôi nhảy ra khỏi giường và tìm bộ đồng phục của tôi khắp phòng. Không có trên thành giường: tôi dừng lại, nhìn chằm chằm. Một người nào đó đang nằm trên cái giường mà tôi vừa mới rời khỏi.
Tôi tiến lại gần thành giường trong ánh sáng lờ mờ, rồi đột ngột lùi lại. Anh ta đã chết. Hàm răng khép hờ, làn da màu xám ngắt thật kinh khủng. Rồi tôi nhìn thấy chiếc nhẫn trên bàn tay trái của anh ta là chiếc nhẫn của hội sinh viên Phi Gamma Delta mà tôi đã và đang đeo trong suốt hai năm qua.
Tôi chạy vào đại sảnh, mong muốn thoát khỏi căn phòng bí ẩn đó. Richmond, đó là điều quan trọn nhất - tới Richmond. Tôi bắt đầu xuống đại sảnh để ra cửa bên ngoài. "Coi chừng!" Tôi hét lên với một người phục vụ trong bệnh viện mà đang rẽ quay sang chỗ tôi. Anh ta dường như không nghe thấy và cũng không nhìn thấy tôi và một giây sau tôi nhận ra anh ta đã đi ngang qua chỗ tôi đứng như thể tôi không có ở đó.

Vô cùng bối rối, tôi dừng lại bên một buồng điện thoại và đặt tay lên sợi dây điện thoại. Ít ra thì sợi dây nằm đó, nhưng bàn tay tôi không thể nào chạm vào nó. Tôi nhận thấy một điều rõ ràng rằng: tôi đã mất đi thân xác của chính mình cũng cái bàn tay mà có thể cầm được sợi dây kia và cái thân thể mà người ta có thể nhìn thấy. Tôi cũng bắt đầu hiểu ra rằng cái xác trên chiếc giường đó chính là của tôi, không thể hiểu sao lại tách ra khỏi tôi, và việc mà tôi phải làm bây giờ là phải trở về nhập lại vào nó càng nhanh càng tốt.
Việc tìm đường quay lại khu căn cứ và bệnh viện không có gì khó khăn. Thực sự tôi hầu như trở lại đó ngay tức khắc khi tôi nghĩ đến nó. Nhưng căn phòng nhỏ mà tôi đã rời đi thì ở đâu? Thế là tôi bắt đầu một trong những cuộc tìm kiếm kỳ lạ nhất đời: cuộc tìm kiếm chính bản thân mình.

Khi tôi chạy từ khu nhà này sang khu nhà khác, đi qua hết phòng này sang phòng khác lúc các bệnh binh đang ngủ - những người lính đều trạc tuổi tôi, tôi nhận ra rằng chúng ta cảm thấy lạ lẫm với chính khuôn mặt của mình như thế nào. Mấy lần tôi đã dừng lại bên một người mà tôi cứ ngỡ là mình, nhưng nhìn vào bàn tay không thấy  chiếc nhẫn Hội sinh viên ở đó, và tôi lại vội vã tiếp tục tìm kiếm của mình
Cuối cùng tôi đi vào một gian phòng nhỏ với ánh sáng lờ mờ. Một tấm khăn trải đã được kéo phủ lên xác người trên giường, nhưng đẻ lộ ra đôi cánh tay của người đó nằm dọc ở bên ngoài. Và chiếc nhẫn tôi đang tìm nằm trên bàn tay trái của thân xác ấy. Tôi đã cố gắng kéo tấm vải trắng ra nhưng không thể nào nắm được nó. Và lúc đó là lần đầu tiên tôi nghĩ đến điều mà đã xảy ra với mình, đó chính là cái mà nhân loại vẫn gọi là "cái chết".
Trong thời khắc tuyệt vọng nhất ấy, căn phòng bỗng sáng rực rỡ, một thứ ánh sáng lạ lùng tôi chưa từng thấy bao giờ, và tôi như bị lôi cuốn theo nguồn ánh sáng ấy. Tôi đã trông thấy những quang cảnh mà từ khi sinh ra cho đến tận bây giờ tôi chưa bao giờ được thấy, những quang cảnh mà tôi nghĩ rằng chỉ có thể ở thế giới bên kia, và tôi không nhìn được rõ các sinh linh ở đó. Có vùng tối tăm u ám nhưng có vùng lại chan hòa ánh sáng vô cùng tươi đẹp với các sinh linh trông như những thiên thần.
Sau đó đột ngột vầng sáng đó giảm dần, tôi muốn quay về. Trong phút chốc tôi lại thấy những căn phòng, những thân xác bất động trên giường. Tôi tiến tới chiếc giường của thân xác mình. Tôi như bị cuốn hút vào cái thân xác đó. Rồi, từ từ cử động được những ngón tay, cuối cùng tôi mở mắt ra. Chỉ vài giây sau, một bác sĩ và cô y tá đã ở trước mắt tôi, nét mặt rạng rỡ. Vậy là tôi đã sống trở lại, đã thật sự hồi sinh..."

Những trải nghiệm không bao giờ quên
Thời đó, thuốc penicilline chưa được phát minh nên việc chữa trị bệnh sưng phổi vô cùng khó khăn, 90 phần trăm người bệnh khó thoát khỏi lưỡi hái của tử thần. Vào buổi sáng ngày 20.12.1943 các bác sĩ ở bệnh viện đã xác nhận rằng George Ritchie đã chết nên người ta chuyển xác ông vào nhà xác.
Tại đây một số thủ tục giấy tờ, giấy khai tử và thủ tục chuẩn bị đưa người chết vào quan tài đã được tiến hành, và người ta chuẩn bị thông báo đi các nơi rằng George Ritchie đã chết. Không ai có thể tưởng tượng được rằng George Ritchie đã sống lại và mang theo câu chuyện diệu kỳ để kể lại với mọi người nhưng trải nghiệm của ông trong giây phút trái tim đã ngừng đập, khi mà mọi dấu hiệu của sự sống đều không còn.

Những điều George Ritchie kể lại sau khi sống dậy đã làm các bác sĩ trong bệnh viện kinh ngạc. Điều kỳ lạ đáng lưu ý nhất chính là những gì Ritchie đã kể và ghi chép lại trong tập nhật ký trong 9 phút chết đó về sau đều được chứng minh là có thực.

Một năm sau, Ritchie trở về trại Barkeley và được gửi sang Âu Châu để phục vụ tại một bệnh viện quân y. Trên đường xe chở Ritchie đi ngang qua thành phố mà một năm trước trong khi bị coi là đã chết, Ritchie đã lui tới. Tiệm bán bia, tiệm cà phê, cây cầu dài bắc qua sông, những con đường, những bảng hiệu, cả cái buồng điện thoại năm xưa... tất cả đều có thật trong thực tế. Đó là thành phố Vicksburg thuộc tiểu bang Mississipi, nơi mà chưa bao giờ George Ritchie đặt chân đến.

George Ritchie sau này trở thành Viện trưởng Viện tâm thần học ở Charlotsville, bang Virginia Hoa Kỳ, và suốt đời ông không thể nào quên rằng mình đã có lần chết đi sống lại, cũng như không thể nào quên các cảnh giới lạ lùng ở bên kia cửa tử. Ông mất vào ngày 29.10.2007 tại nhà riêng ở Irvington, Virginia, Mỹ, hưởng thọ 84 tuổi.




Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

Tia đất dưới cái nhìn của nhà khoa học


LTS: Nhiều năm qua, đã có không ít phóng viên chắp bút viết về ngôi nhà số 300 Kim Mã (Hà Nội). Thế nhưng, tại sao những đồn đoán ma mị bấy lâu nay vẫn chưa dừng lại? Chúng tôi và nhóm cộng sự đã cất công lưu lại nhiều đêm ở ngôi nhà này, để đi đến tận cùng của sự thật và chuyển đến độc giả câu trả lời cuối cùng.

Đúng hẹn, chúng tôi – những người hạ quyết tâm đi đến tận cùng sự bí ẩn của “căn nhà ma” số 300 Kim Mã, đã tìm đến trụ sở của công ty nghiên cứu tia đất bảo vệ sức khỏe, ở địa chỉ số 1 đường Ven Hồ (Hà Nội).
Tiến sĩ vật lý Vũ Văn Bằng, Phó Giám đốc công ty, là chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực môi trường đất, nhận biết đất lành – đất dữ, đồng thời là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “tia đất” và cũng là cha đẻ của một dụng cụ đo khá kỳ lạ.
Đó là chiếc máy đo tia đất, hoạt động trên nguyên tắc nhiễm từ, có thể đo đếm được đặc tính của đất, mạch nước ngầm, thậm chí còn nhận biết được sự tồn tại của hài cốt, mồ mả…

TS Vũ Bằng và chiếc máy đo tia đất của mình (trái) cùng tác giả trong buổi thực nghiệm tại ngôi nhà số 300 Kim Mã

TS Bằng phủ nhận gần như hoàn toàn sự tồn tại của ma quỷ. Ông rọi sáng nó bằng lý thuyết của khoa học, lý thuyết của điện từ trường mà cả đời ông say mê theo đuổi.
“Tất cả đều là từ trường! Nhìn thấy ma hay cảm nhận thấy ma đều là do từ trường tác động vào cơ thể. Không có gì khác cả. Ma quỷ chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng”, TS Bằng quả quyết nói.
“Ông tia đất” cũng cho hay, vật lý hiện đại đã chứng minh, tất cả các vật chất tồn tại đều phát ra điện từ, con người cũng không ngoại lệ.
Tuy nhiên khi còn sống, tổng từ trường trong cơ thể bằng 0 (không). Trị số này sẽ thay đổi khi con người chết đi và bị định hướng bởi từ trường của trái đất.
“Từ trường của người chết sẽ chỉ còn một chiều và đặc biệt mạnh lên khi kết hợp với đất xung quanh. Theo nguyên lý chồng chập từ trường, chỗ nào càng nhiều hài cốt thì từ trường càng mạnh, tác động đến con người càng rõ rệt”, TS Bằng nói.
Giải thích lý do tại sao có người luôn miệng nói “có ma” trong khi phần lớn đều không thấy, vị TS so sánh trực quan với việc trong gia đình có người thường bị đau xương, nhức đầu mỗi khi trái gió trở trời, trong khi các thành viên còn lại vẫn khỏe mạnh.
“Đó là do đặc tính của mỗi người. Về đặc tính từ trường, con người có “nghịch từ” và “thuận từ”. Người “nghịch từ” giống như nhôm, vàng, bạc… để cạnh nam châm không hề bị ảnh hưởng. Còn những người “thuận từ”, như sắt, sẽ bị hút ngay.
Đó là lý do tại sao cùng vào một khoảnh đất nhiễm từ mạnh, có người không sao nhưng có những người bị ảnh hưởng ngay. Cụ thể là cảm giác lạnh lẽo, sợ sệt, lo lắng… nói chung là các cảm giác tiêu cực, dễ bị suy diễn thành ma quỷ”, TS Bằng giải thích.
Cuốn sách nhận biết Đất lành – Đất dữ của TS Vũ Bằng đúc kết sau nhiều năm nghiên cứu
Cũng theo lời vị TS vật lý, dù thuận từ hay nghịch từ thì việc ở lâu trong môi trường nhiễm từ cao sẽ không tốt cho sức khỏe con người. Dễ nhận thấy nhất là mất kiểm soát khu vực thần kinh, dân gian hay gọi là hiện tượng “ma nhập”.
Để cụ thể hơn, TS Bằng lấy thêm ví dụ về “điểm đen giao thông”, là nơi ông khẳng định có từ trường mạnh hơn bình thường. Lái xe đi qua khu vực này rất dễ bị ảnh hưởng thần kinh, dẫn đến tai nạn. Ông cũng giải thích thêm:
“Những người chết vì tai nạn, tự tử thường đều đang trẻ khỏe, nên từ trường phát ra từ thi thể mạnh gấp nhiều lần từ trường người chết vì bệnh tật hay tuổi tác. Đây cũng chính là lý do dân gian nói người chết đường chết chợ, tự tử thường “thiêng” hơn, hay “về”…”.
Kết thúc 30 năm đồn đoán
10h30’ trưa 13/8, ba người trong nhóm chúng tôi, TS Vũ Bằng cùng cộng sự của ông có mặt đầy đủ tại mặt tiền căn nhà số 300 Kim Mã để bắt đầu thực hiện thí nghiệm mà ông gọi vui là “để đời” hoặc “để kết thúc 30 năm đồn đoán”.
TS Vũ Bằng quyết định trưng dụng thêm cộng sự để sử dụng song song 2 máy đo tia đất một lúc, nhằm giảm thiểu tối đa sự sai sót. “Chiếc máy này về cơ bản tỉ lệ chính xác trên 90%, nếu có sai cũng vì yếu tố con người”, ông tự hào giới thiệu.


 Mỗi địa điểm TS Vũ Bằng đo thấy có dấu hiệu khác biệt đều được cộng sự của ông cẩn thận đo lại
Về phía chúng tôi, Nguyễn Đức Thọ lãnh trách nhiệm quay phim còn Phạm Anh Thế chụp ảnh. Tất cả đều ý thức được và không muốn bất cứ khoảnh khắc nào bị vuột khỏi ống kính, dù nhỏ nhất.
Sau khi hoàn tất quá trình chuẩn bị, TS Vũ Bằng bắt đầu chầm chậm di chuyển từ mép trái căn nhà, đoạn giáp số nhà 298, men theo mặt tiền để xuôi về phía ngã ba Kim Mã – Vạn Bảo.
Đi được khoảng 2m, chiếc máy bắt đầu có hiện tượng lạ. Phần ăng-ten phía trên đang ở hướng song song với tường bỗng chếch vào trong. Đưa ăng-ten lại vị trí ban đầu, nó lập tức lại chếch vào. Chiếc máy thứ 2 gặp hiện tượng tương tự.
Nhìn thông số trên chiếc đồng hồ, TS Bằng giải thích: “Ăng-ten lệch 1 góc 27 độ, điều này chứng tỏ khu vực tôi đang đứng, tịnh tiến vào phía bên trong tường, có một bộ hài cốt cổ trên 100 năm, đã tan hết vào đất hoặc đã bị chuyển đi, ước chừng ở độ sâu 1,7m”.
Hiện tượng này lặp lại thường xuyên sau khoảng 2m một, cho đến một chỗ hõm vào, vốn là cổng của căn nhà. Nhìn chiếc máy quay vòng tròn và không dừng lại, vị TS giải thích:
“Bộ hài cốt này cũng giống các bộ hài cốt kia. Nhưng chiếc máy quay tít bởi vì tôi đang đứng ngay trên nơi người này được chôn cất. Nhờ vào các thông số, tôi có để định hướng được tương đối đâu là đầu, đâu là chân”.
Việc sử dụng chiếc máy rà xung quanh toàn bộ chu vi căn nhà, cộng với việc đối chiếu, ghi chép tỉ mỉ các con số giữa 2 máy đã giúp TS Vũ Văn Bằng đưa ra kết luận: Căn nhà số 300 Kim Mã gối đầu lên 2 khu nghĩa địa.
Khu trước mặt khoảng hơn 100 ngôi mộ, gồm 9 hàng ngang rất thẳng lối, khu sau nhà khoảng 70 ngôi mộ, đều có niên đại cổ xưa và đã bị tan hoặc dọn đi hết. Tuy nhiên từ trường để lại vẫn rất lớn.
Ông Bằng cho rằng, từ trường tại khu đất này dao động ở khoảng 25.000 đến 28.000 Tesla. Còn mức chịu đựng của con người, theo tiêu chuẩn quốc tế là khoảng 600 Tesla.
Điều đó có nghĩa là đất của nhà 300 Kim Mã có từ trường cao gấp khoảng 5 lần ngưỡng cho phép.
“Ở đây tuyệt nhiên không thể đổ cho ma quỷ gì cả”, TS Vũ Văn Bằng kết luận.
Với tư cách là một nhà khoa học, vị tiến sĩ đầu ngành về đất cũng gợi ý cách xử lý sao cho hiệu quả nhất. Theo đó, muốn loại bỏ triệt để từ trường mạnh ở khu vực này, chủ nhân của tòa nhà nên múc bỏ toàn bộ đất đã nhiễm từ và thay vào đó đất mới.
Như vậy, có thể sau thí nghiệm khoa học và giải thích hợp lý này, chúng tôi thực sự hy vọng những lời đồn đại ma mị suốt 30 năm qua về căn nhà số 300 Kim Mã sẽ có cơ hội được khép lại hoàn toàn trong sự minh bạch.
Còn nếu bạn vẫn thắc mắc? Cũng không sao, chúng tôi hoàn toàn ủng hộ. Bởi, chẳng ai thể ngăn cấm các bạn tưởng tượng để phát triển trí não…
(Theo Son Ha)


Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Nhà báo thách đố nhà ngoại cảm 100 triệu

(SKCĐ)- Mấy ngày nay, thế giới mạng dậy sóng với cuộc thách đố giữa nhà báo Phạm Ngọc Dương (Trưởng ban Phóng sự Báo điện tử VTC News), với nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài, một nhân vật khá nổi tiếng trong giới ngoại cảm tìm mộ hiện nay, người mới xuất bản cuốn sách “Một thế giới khác”, gây chú ý trong dư luận. PV Sức khỏe Cộng đồng đã có cuộc trò chuyện với nhà báo Phạm Ngọc Dương quanh cuộc thách đố này.


Nhà báo Phạm Ngọc Dương (Trưởng ban Phóng sự Báo điện tử VTC News)

- Anh có thể cho biết, vì sao lại có cuộc thách đố giữa anh và nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài, người được cộng đồng những người tin vào hiện tượng tâm linh rất coi trọng?

Thực ra, tôi không có ân oán gì với chị Hoài cả. Tôi cũng chưa tìm hiểu nhiều về nhà ngoại cảm này, bởi chị ấy là người “nổi” về sau. Tôi vốn tìm hiểu rất kỹ các nhà ngoại cảm tiền bối so với chị ấy và còn nổi tiếng hơn chị ấy nhiều. Mới đây, tôi có bài viết cảnh báo về chuyện những trung tâm giáo dục mở các lớp khai mở não bộ cho trẻ em khoảng 6-12 tuổi. Trong khóa học đó, người ta có bài luyện bịt mắt vẫn nhận biết được màu sắc, hình dạng đồ vật. Tôi biết đây là một dạng khai mở não bộ, rất nguy hiểm, nếu không cẩn thận có thể khiến trẻ em bị hoang tưởng, nên tôi cảnh báo. Sở dĩ, tôi cảnh báo, vì ở nước ta từng có rất nhiều khóa học kiểu kích não thế này, rất nguy hiểm. Về mặt nào đó, nó giống với hiện tượng áp vong, khơi gợi cái gọi là ngoại cảm. Từ bài viết đó, tôi khẳng định luôn rằng, hiện tượng ngoại cảm áp vong tìm mộ ở Việt Nam là dạng hoang tưởng. Thực ra, tôi chỉ nhắc lại điều này mà thôi, vì tôi đã cảnh báo trên gần 100 bài báo rồi…

- Anh có thể thông tin cho độc giả biết, anh đã “thách đố” thế nào không?

Tôi chấp nhận bỏ ra 100 triệu đồng để trao giải. Ngoài ra, sẽ ứng trước kinh phí cho một cuộc khảo nghiệm tìm mộ. Một bên là các nhà báo điều tra giỏi, một bên là chị Hoài cùng các nhà ngoại cảm, các chuyên gia nghiên cứu đánh giá cao chị ấy. Nếu chị ấy thắng, tôi sẽ mất số tiền đó, mất cả kinh phí tìm mộ. Tôi cũng sẽ không bao giờ viết về chuyện ngoại cảm nữa, vì tôi sẽ thừa nhận tôi sai và chị ấy cũng như giới ngoại cảm tìm mộ có năng lực thật sự. Còn nếu chị ấy thua, tôi chỉ cần chị ấy giải nghệ, thừa nhận không có khả năng tìm mộ bằng ngoại cảm. Mục đích của tôi là mong muốn làm rõ việc này, chứ giới ngoại cảm cứ tìm đủ mọi lý lẽ bao biện, giải thích theo cách của họ, thì sẽ không bao giờ sáng tỏ được. Tôi muốn xã hội được thấy rõ là có ngoại cảm tìm mộ hay không, tìm mộ bằng ngoại cảm có chính xác hay không. Lời thách đố của tôi được nhiều bạn bè ủng hộ. Có người đòi góp vài trăm triệu, cốt để mong làm sáng tỏ, để người dân được thấy rõ mọi chuyện.

- Tôi cũng đã đọc phản ứng của chị Hoài cũng như tham khảo một số nhà nghiên cứu, những người tin và hiện tượng này, và họ đều nói rằng, không thể đem ngoại cảm ra “thách đố” được. Việc tìm mộ còn dựa vào tín tâm của gia đình muốn tìm mộ, rồi tâm lý của nhà ngoại cảm, thậm chí cả thời tiết cũng ảnh hướng đến khả năng của nhà ngoại cảm. Nếu thách đố thì rất khó.

Họ luôn bao biện như vậy, với lý lẽ cùn, nên không giúp mọi người sáng tỏ được. Nếu thế, thì tôi sẽ thách đố thế này, đảm bảo nhà ngoại cảm sẽ không bị ảnh hưởng tâm lý: Tôi biết, chị Hoài đã xuất bản cuốn sách tự truyện có tên “Một thế giới khác”. Tôi không đọc cuốn sách đó, tuy nhiên, với kinh nghiệm tìm hiểu ngoại cảm, kinh nghiệm nghề nghiệp, tôi cũng đoán trong sách sẽ có rất nhiều ví dụ, kể lể về các cuộc tìm mộ rất chi là ly kỳ của chị Hoài.

Vậy thì, tôi sẽ thách đố chị Hoài đem hài cốt của những liệt sĩ mà chị tìm được, được nhắc đến trong sách, đi xét nghiệm ADN. Những trường hợp nào chị Hoài tìm đúng, cho kết quả chính xác, tôi sẽ chịu chi phí xét nghiệm. Còn trường hợp nào sai, chị Hoài sẽ chịu. Các gia đình có thân nhân liệt sĩ cũng không mất gì, mà làm sáng tỏ được vấn đề, không phải sống trong lo âu, thấp thỏm, không biết là xương cốt người thân hay tổ mối, xương động vật, hay là xương người khác. Tôi sẽ gửi luôn cho các anh ảnh chụp sổ tiết kiệm, với số tiền vài trăm triệu đồng để làm chứng. Đây là số tiền đóng tiền mua nhà đợt cuối của gia đình tôi. Tôi sẽ đem hết ra để thách đố với chị ấy, những mong làm sáng tỏ sự việc, giúp một bộ phận vẫn u mê tin vào trò áp vong tìm mộ tỉnh ngộ.


Nhà ngoại cảm Nguyễn Ngọc Hoài

- Anh khẳng định trạng thái áp vong là trạng thái hoang tưởng? Và anh kết luận những người từng áp vong đã trải qua trạng thái tâm thần?

Đúng vậy. Tôi đã nghiên cứu các tài liệu nước ngoài và các chuyên gia cho rằng, đây là trạng thái hoang tưởng. Không chỉ nghiên cứu lý thuyết, mà tôi đã nghiên cứu khá nhiều nhà ngoại cảm, các cuộc áp vong tìm mộ, và tôi khẳng định luôn: 99,9% là hoang tưởng.

Tôi không bác bỏ khả năng đặc biệt của con người. Nhưng khả năng thật sự là rất hiếm và có lẽ nó không áp dụng được vào việc tìm mộ. Tôi chưa gặp bất cứ một ai có khả năng gọi là ngoại cảm, thần thông, tìm được mộ, dự đoán, dự báo... Tất cả chỉ là ảo hết: Ảo vọng, ảo thị, ảo thanh, ảo giác... ảo tất. Với các bác sĩ chuyên ngành thần kinh ở các bệnh viện hiện đại, thì đó là hiện tượng hoang tưởng.

Tôi có thể giải thích vắn tắt và đơn giản thế này: Não bộ có 2 phần gồm ý thức và vô thức. Ý thức là những cái logic, là ngôn ngữ, là cái con người nhớ được... đại loại thế. Vô thức là một mảng nào đó của não bộ, liên tục hoạt động. Vô thức vẫn chỉ đạo được cơ thể, chẳng hạn như mộng du, mơ ngủ... Vô thức có thể làm được những việc kỳ lạ nào đó, thậm chí là không tin nổi. Nhưng, liền với đó, cũng có thể là trạng thái tâm thần. Có những thi sĩ tâm thần, nhà sáng chế tâm thần, lập dị... rất nhiều là đằng khác. Người tâm thần thì rất kỳ lạ, luôn nghĩ mình là đấng tối cao, là nhất, hoặc luôn đi theo tiếng gọi của đấng tối cao. Việc khai mở một thứ gì đó ở vô thức, mà không có sự hiểu biết, kiểm soát, thì có thể thành hoang tưởng hoặc thiên tài, ranh giới rất mong manh.

Tôi tin rằng, khi các nhà ngoại cảm tập trung tinh thần, đưa bộ não của mình về trạng thái đặc biệt, thì có thể là vô thức, hoặc một bộ phận nào đó ở vô thức trỗi dậy hoạt động.
Có người lúc đó mất hết ý thức, không nhớ được gì, có người ý thức vẫn hoạt động và ghi nhớ hình ảnh vô thức vẽ ra. Quan điểm của tôi, là hầu hết ngoại cảm ở Việt Nam toàn là do vô thức vẽ ra, cả hình ảnh, âm thanh, cảm giác. Trong Phật giáo họ gọi đó là tưởng thức.

Tôi ví dụ thế này: Có nhà ngoại cảm, khi tìm mộ, thì thân nhân mang tấm ảnh đến. Nhìn vào tấm ảnh, tập trung tư tưởng, gọi liệt sĩ, thì vô thức vẽ ra hình ảnh người liệt sĩ trong não. Hình ảnh liệt sĩ sống động như ngay trước mặt. Chúng ta nhìn thấy hình ảnh trước mắt, là bởi hình ảnh đó được thu vào võng mạc, được bộ não phân tích. Có nhà ngoại cảm cần phải kể tên, tuổi, ngày tháng năm sinh, quê quán. Nghe xong, thì tất cả những thông tin đó được vô thức xây dựng, vẽ ra. Có nhà ngoại cảm nhắm mắt tưởng tượng, hình ảnh liệt sĩ như đám mây cuộn về trước mắt. Liệt sĩ nào cũng như đám mây trước khi thành người thật... Có nhà ngoại cảm thấy hình ảnh sơ đồ khu vực liệt sĩ chết hiện trước mắt, trong đầu, rồi cứ thế vẽ lại... Có nhà ngoại cảm thấy tuổi trẻ của liệt sĩ đẹp giai này khác, có người chỉ thấy hình dạng lúc chết, có người luôn thấy liệt sĩ đang tắm ... Chuyện hài nhất, là có nhà ngoại cảm gọi cụ rùa lên nói chuyện và nói tiếng người. Có nhà ngoại cảm tập trung tư tưởng vào và nói tiếng “Thiên” chả ai hiểu, có người nói tiếng Tàu, có người nói tiếng dân tộc... Có người lại cục tác như gà. Có người trườn như rắn... Đấy là tưởng thức. Khi ám thị truyền vào não là thứ gì, thì tưởng thức sẽ biến thành thứ đó.

Khi đã tiếp xúc và nghiên cứu nhiều trạng thái như thế, thì sẽ kết luận được rằng, tất cả chỉ là vô thức vẽ ra, là ảo giác, là thứ tưởng tượng không có thật. Nó cũng na ná chuyện lên đồng.
Ví dụ, ông Hoàng Bảy, hôm rằm thì “nhập” vào cả ngàn cô đồng cùng lúc trên khắp Việt Nam, múa loạn cả lên, chửi bậy, hút thuốc. Vô thức đã bị ám thị bởi những tính cách đó và nó xây dựng hình ảnh như thật luôn.

Nếu các nhà ngoại cảm cho vong áp vào mình, thì hậu họa họ chịu, nhưng họ áp vong vào người nhà liệt sĩ, tôi cực lực phản đối. Bởi vì, như vậy, họ đã biến người thân liệt sĩ thành người “tâm thần” trong thời điểm đó. Bộ não người bị áp vong đã chính thức bị tổn thương, nặng hay nhẹ mà thôi.

Bạn cứ để ý mà xem, người tâm thần luôn nghĩ mình là đấng tối cao, hoặc luôn đi lang thang cứu nhân độ thế, thậm chí “nhìn” thấy người vô hình và cứ thế nói chuyện. Vô thức hoạt động, ý thức bị mất, đấy là người tâm thần. Khai mở vô thức, đưa người ta vào trạng thái “vong nhập”, tức là trạn thái của tâm thần. Người nào thần kinh kém, không thoát được trạng thái đó, thì có thể sẽ thành hoang tưởng, tâm thần, hoặc nhẹ hơn thì bị stress, tâm trạng bất ổn, lúc vui lúc buồn, nóng giận vô cớ, hoặc luôn nhìn thấy vong ma...

Không bị sao thì do thần kinh khỏe, quá may mắn. Quá trình đi điều tra, tôi đã gặp vài người chết vì hiện tượng “vong nhập”. Bệnh viện Nghệ An có thời điểm quá tải về người tâm thần do đi áp vong.

Những nhà ngoại cảm áp vong vào người nhà liệt sĩ, là họ rất khôn. Nếu tìm được mộ, họ sẽ nhận vơ là do mình, còn không tìm được, tìm sai, thì họ bảo do vong chỉ sai, do vong không muốn tìm về, do chưa thành tâm... Họ phủi sạch trơn với đủ các loại lý lẽ, mà người mê muội thì tin lý lẽ đó là đúng.

- Vậy theo anh, các nhà ngoại cảm là… lừa đảo?

Tôi xin khẳng định, 99% các cuộc tìm mộ bằng ngoại cảm là sai toét. 1% nếu có, thì có thể là ăn may, hoặc bằng khoa học, thực tế, với những thông tin sẵn có, chứ không phải do ngoại cảm. Nhiều nhà ngoại cảm ban đầu có khả năng đặc biệt, nổi tiếng rồi, kiếm được nhiều tiền rồi, thì họ cứ lao theo, kể cả biết là tìm sai, vì đó là nghề của họ. Nhiều kẻ thì lừa đảo rõ ràng như Cậu Thủy, như Vũ Thị Hòa. Nhiều người tôi quen, họ rất tốt, rất có tâm, nhưng có thể họ đang bị hoang tưởng về khả năng của mình, nên cứ tiếp tục đi tìm mộ và tìm sai mà bản thân họ cũng không biết. Tôi chỉ tin những người tỉnh táo, không sử dụng ngoại cảm để tìm mộ mà thôi.

- Rất nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, với cấp hàm giáo sư, tiến sĩ, chẳng lẽ cũng không phân biệt được đúng - sai trong ngoại cảm tìm mộ?

Tôi tin là họ biết đúng - sai trong hiện tượng tìm mộ bằng ngoại cảm. Tuy nhiên, một số trong họ có thể bị lợi ích làm mù quáng. Nhà ngoại cảm nào, sau khi nổi tiếng, cũng đều trở nên giàu có. Muốn nổi tiếng, kiếm tiền dễ, thì họ cần một cuộc nghiên cứu, khảo nghiệm như một đề tài của một cơ quan khoa học nào đó. Các nhà khoa học đáp ứng được điều đó, và giúp họ một tấm giấy kiểu như chứng nhận là cộng tác viên, cán bộ của đề tài nghiên cứu. Họ dùng cái đó để lòe thiên hạ, tạo niềm tin với cộng đồng.
Dân mình thì dễ tin, thấy họ đang là đối tượng nghiên cứu, lại cứ tưởng được chứng nhận nhà ngoại cảm rồi. Tôi cũng xin cảnh báo, là ở Việt Nam không có cơ quan nào có thẩm quyền cấp giấy, hay thẻ chứng nhận là “nhà ngoại cảm” cả. Đó toàn là những chức danh tự phong của họ, hoặc của người dân dành cho họ.

- Được biết, anh từng có thời gian viết nhiều bài về chuyện tìm mộ của giới ngoại cảm, sau này vì sao anh lại phản bác rất mạnh mẽ như vậy?

Tôi thừa nhận là đã từng có thời gian sai lầm và tôi luôn nói ra cái sai lầm đó. Hồi 2005, cùng với hầu hết nhà báo, cả các giáo sư, tiến sĩ, đều tin và hào hứng viết bài về chuyện này. Các bài viết của tôi đều dựa vào tài liệu nghiên cứu của các GS.TS. Không tin vào những người có học hàm học vị thì tin vào ai? Lúc đó, còn trẻ, là nạn nhân cũng dễ hiểu. Tuy nhiên, khi tiếp xúc thật sự với các nhà ngoại cảm, đi theo họ tìm mộ, xem họ áp vong, gọi hồn, thì tôi thực sự thất vọng, và nhận ra rằng toàn là hoang đường. Các cuộc tìm mộ đều toàn đào tổ mối, đất đen, xương thú...

Mất dạy hơn nữa, là họ toàn xúi thân nhân các gia đình vào nghĩa địa lúc nửa đêm đào trộm hài cốt ở nghĩa trang toàn liệt sĩ vô danh. Nhà nước không tin vào ngoại cảm, nên cấm việc tự tiện đào bới mộ liệt sĩ trong nghĩa trang, thế nhưng, họ vẫn xúi dân vào đó đào trộm. Có cả vạn vụ đào trộm như thế. Sau này, nếu đất nước giàu có, phát triển, muốn xây dựng ngân hàng gen, giám định các hài cốt, thì cũng không làm được, vì mộ bị trộm hết rồi.

Nhận ra sự thật rồi, thì khoảng năm 2011, tôi viết một mạch liên tiếp dễ đến 100 bài vạch mặt hiện tượng này. Thậm chí, khi phong trào áp vong tìm mộ rầm rộ, tôi kết luận luôn là các nhà “ngoại cảm” điên khùng đang gieo rắc mê tín dị đoan ra xã hội. Những người đi áp vong, rơi vào trạng thái đó, chính là trạng thái của ảo giác, chính là trạng thái của tâm thần. Loạt bài đó gây hiệu ứng kinh khủng, và góp phần vào việc giải tán các trung tâm áp vong. Ai chẳng sợ bị tâm thần. Suốt từ đó đến nay, tôi đã phải tiếp rất nhiều người bị hoang tưởng sau khi đi áp vong tìm mộ. Có những cô gái rất đẹp, con nhà giàu, thậm chí người mẫu, công việc lương vài ngàn USD, mà tự dưng thành hoang tưởng, suốt ngày nhìn thấy “ma”. Họ là nạn nhân thảm khốc của đám ngoại cảm dùng trò áp vong để tìm mộ.

- Xin cảm ơn anh!

Nhật Linh (thực hiện)

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016

Thắp hương - Có thể bạn chưa biết

Dù nhiều người không tin lắm về việc có tồn tại một thế giới khác ngoài chúng ta, nhưng ông bà xưa có câu “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Do đó, khi thắp hương bạn cũng cần phải lưu ý một số việc.
Vào những ngày rằm, mùng một hay các dịp lễ tết, cúng giỗ hầu hết các gia đình đều thắp hương lên bàn thờ gia tiên hay bàn thờ Phật. Mặc dù là việc làm rất quen thuộc, nhưng không phải ai cũng biết thắp hương như thế nào là đúng.



Ý nghĩa của việc đốt hương
Người ta thắp hương để không khí trở nên thanh tĩnh, ấm áp và trang nghiêm. Ngoài ra việc thắp hương còn để cầu mong các vị Thần Phật, ông bà tổ tiên nghe được lời cầu nguyện giúp đỡ họ vượt qua những nỗi khổ của mình. Hoặc đơn giản, nó chỉ là một cách để chúng ta bày tỏ lòng thành kính với những người đã mất. Việc thắp hương như một sợi dây vô hình, gắn liền hai thế giới lại với nhau.

Ý nghĩa của số lượng hương khi thắp
Theo quy định của nhà Phật, số lẻ mang tính âm, còn số chẵn sẽ mang tính dương. Do đó, khi thắp hương người ta thường chọn số lẻ như 1, 3, 5, cây hoặc chọn nguyên một bó chứ không bao giờ chọn số chẵn như 2, 4, 6 nén. Vì theo nhà Phật tính âm tượng trưng cho những người đã mất nên khi đốt hương, chỉ đốt số lượng lẻ. Trừ trường hợp đốt cho người mới mất trong thời gian còn chịu tang, người ta mới thắp 2 nén hương.

Số lượng hương khi thắp mang ý nghĩa nhất định.
Khi người ta muốn cầu bình an, mong muốn việc làm ăn thuận buồm xuôi gió thì người ta chỉ thắp duy nhất một nén hương.
Trong tập tục Việt Nam, người ta thường thấp 3 nén hương, nhằm thể hiện lòng thành kính, sự tận tụy của bản thân với các bậc bề trên. Trong phong thủy, 3 nén hương tượng trưng cho Trời, Đất và Người. Nên vào những dịp trọng đại, người ta thương đốt 3 nén hương để cầu mong mọi chuyện được thuận buồm xuôi gió.
Còn việc thắp 5 nén hương, tượng trưng cho 5 mệnh trong phong thủy ( Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ), nên khi mua đất, cất nhà người ta sẽ thắp 5 ném hương.
Để cầu xin ân trên ban cho những điều may mắn, tốt lành người ta sẽ đốt 7 hoặc 9 nén hương.
Không chỉ vậy, ở một số vùng quê nước ta họ còn thắp hương từng gốc cây, góc nhà, vì theo họ mọi vật đều có tâm hồn và cần được an ủi để những vong hồn sống ở đó không cảm thấy cô đơn, hưởng được ít phước lành sớm ngày được siêu thoát.
Những lưu ý khi thắp hương

Khi thắp hương, bạn nên có những lời cầu khấn thành tâm. Đặc biệt, khi thắp hương ở chùa, miếu để cầu nguyện cho người thân đã mất, bạn nên nêu rõ tên của người đó ra để họ có thể hưởng được những điều tốt mà bạn cầu nguyện cho họ.
Một điều nữa chúng ta cũng cần phải ghi nhớ đó là khi thắp hương, không chỉ thắp bằng tấm lòng thành kính mà còn phải tập trung không được có thái độ lơ là. Khi cắm hương, phải cắm từng nén một bằng hai tay vào bát hương.

Thứ Tư, 26 tháng 10, 2016

5 Lợi ích khi mua xe màu trắng

Nếu chúng ta quan sát kỹ sẽ thấy những chiếc ô tô màu trắng xuất hiện trên đường ngày càng nhiều. Không riêng gì xe ô tô mà xe máy cũng tương tự.


Theo số liệu thống kê có liên quan, năm 2014, doanh số bán những chiếc xe có nước sơn màu trắng là 28%, tăng 3% so với năm 2013. Vì sao xe màu trắng lại ngày càng phổ biến như vậy?

Nguyên nhân 1: Chiếc xe màu trắng không hấp thụ nhiệt

Khoa học vật lý về màu sắc cho thấy, màu đen hấp thụ nhiệt và màu trắng phản chiếu lại ánh sáng nên hút nhiệt ít hơn.

Màu sắc càng đậm thì mức độ hấp thụ nhiệt càng cao. Có lúc nhiệt độ lên cao tới 60 độ C, điều này có thể khiến nhiệt độ trong xe tăng cao. Nhưng đối với xe màu trắng, nhiệt độ trong xe sẽ hạ thấp hơn.

Nguyên nhân 2: Xe màu trắng càng có khả năng chịu bẩn.

Nếu bạn không thể rửa xe mỗi ngày, lời khuyên của hiệp hội rửa xe quốc tế khuyên rằng, không nên chọn xe tối màu, đặc biệt là màu đen. Mọi người vẫn thường nghĩ, xe màu trắng dễ bị bẩn hơn, kỳ thực, xe màu đen mới dễ nhìn ra bụi bẩn nhất. Màu bạc hoặc trắng là khó nhìn rõ vết bẩn hơn cả. Chiếc xe màu đen có thể nhìn rõ vết lõm, nhưng chiếc xe màu trắng lại che giấu tốt hơn.

Nguyên nhân 3: Đi xe màu trắng an toàn hơn

Màu trắng có mầu sắc sai khác nhiều so với màu tự nhiên. Vì vậy, màu này dễ được các lái xe phân biệt. Dù là ban ngày hay ban đêm, khả năng khúc xạ ánh sáng của xe màu trắng khiến người lái xe dễ nhận ra hơn, xác suất gặp tai nạn giao thông giảm hẳn.

Một tổ chức nước ngoài thực hiện nghiên cứu dựa trên các sự cố tai nạn giao thông đã phát hiện, tỷ lệ tai nạn và màu sắc xe có mối liên hệ với nhau. Sau khi nghiên cứu, xe màu trắng bạc là lựa chọn tốt nhất khi chọn màu xe, vì tỷ lệ gặp nạn là nhỏ nhất. Cho dù có gặp nạn, xe màu trắng bạc cũng chịu thiệt hại nhỏ hơn, giảm 50% so với màu xe khác. Mức thiệt hại nặng nhẹ ở xe có màu trắng, vàng , màu xám, màu đỏ, màu xanh có tỷ lệ không giống nhau. Xe có màu đen và nâu thường dễ dàng phát sinh sự cố giao thông hơn và mức nặng thường gấp đôi các xe màu khác.

Nguyên nhân 4: Xe màu trắng ít bị mất giá hơn xe màu khác

Ai đã từng mua và bán xe màu trắng hẳn sẽ biết, chiếc xe màu này bán được giá hơn các xe màu khác. Bán được giá là có nguyên do của nó. Xe màu trắng tiêu thụ tốt, nước sơn được đánh giá cao, dễ đổi mới. Trong thị trường xe cũ, xe màu trắng cũng vẫn được người tiêu dùng yêu thích hơn.

Nguyên nhân 5: Xe màu trắng ít bị trộm cắp

Theo một nghiên cứu mới ở Hà Lan cho thấy, những tên trộm thường yêu thích những chiếc màu đen, xám, bạc và xanh. Màu vàng, đỏ và trắng, chúng ít quan tâm đến hơn, và tỷ lệ trộm cắp thấp nhất. Theo nhà tâm lý học cho biết, những tên trộm thường có tâm địa đen tối, chúng sẽ chọn những chiếc xe phản ánh tâm địa của bản thân để bán lại, khiến cho chúng có cảm giác dễ chịu, cảm giác lúc nào cũng có thể bị bắt bởi cảnh sát.

Theo NTDTV


Thứ Ba, 25 tháng 10, 2016

Biệt giam trắng hình thức tra tấn khủng khiếp

Cùng với biệt giam và "giọt nước tử thần", tra tấn trắng được xem là một trong ba biện pháp tra tấn tinh thần mang sức hủy diệt khủng khiếp nhất đối với tù nhân trong lịch sử nhân loại.

Cũng giống như 2 biện pháp tra tấn tinh thần trên, tra tấn trắng không hề gây đau đớn hay tổn thưởng về thể chất nhưng lại có sức hủy diệt kinh khủng về tinh thần, gây nên những ảo giác "chán ghét" và "muốn chết" đến tột cùng.
Không rõ nguồn gốc của biện pháp tra tấn trắng này từ bao giờ và ở đâu, nhưng nó được sử dụng rất rộng rãi tại các nhà tù ở Anh, Mỹ, Iran và Venezuela.
Tra tấn trắng hủy diệt con người như thế nào?
Không đánh đập, không gây thương tích, thậm chí không một giọt máu phải rớt xuống sàn xà lim, nhưng tại sao tra tấn trắng lại khiến nạn nhân của nó phát điên và ao ước được chết để kết thúc "cơn ác mộng trần gian" này?
Tra tấn trắng (tiếng Anh: White torture) được xem là một trong những hình thức tra tấn tinh thần tồi tệ nhất trong lịch sử. Nó là sự kết hợp giữa biện pháp biệt giam nhưng lại trong một căn phòng toàn màu trắng (nên đôi khi tra tấn trắng được gọi với cái tên biệt giam trắng).
hòng giam của tù nhân chịu biệt giam trắng sẽ cách âm, không có ánh sáng Mặt trời và tất cả đều trắng. 

Hãy hình dung, riêng biệt giam (từ 1 đến 4 tuần) thôi cũng khiến nạn nhân của nó đã mất dần đi phần "người", gặp ảo giác, hoang tưởng rồi phát điên và ước nguyện được chết.
Tù nhân sẽ bị biệt giam trong một căn phòng kín mít, cách âm và không đồ đạc. Khắp nơi đều là màu trắng toát đến lạnh sống lưng: Từ nền nhà, tường đến trần nhà đều màu trắng. Thậm chí, đến đồ ăn để duy trì sự sống của họ cùng màu trắng.
Khủng khiếp hơn biệt giam, người ta luôn để đèn ánh sáng trắng 24/24. Cách thức này khiến tù nhân không thể phân biệt được ngày hay đêm.
Ở một mình trong một căn phòng toàn màu trắng, không âm thanh của cuộc sống, không ánh sáng tự nhiên, tù nhân như bị chính ánh sáng trắng thiêu đốt.
Ban đầu, những cảm giác khủng khiếp sẽ chưa đến. Nhưng sau một thời gian, cảm giác thiếu thốn (thiếu những cảm quan hàng ngày về thời gian, nhiệt độ và môi trường) sẽ khiến tù nhân bắt đầu thấy bứt rứt.
Sau 1 đến 2 tuần biệt giam trong phòng trắng, họ mất hoàn toàn cảm giác và ý thức. Các giác quan bỗng trở nên thừa thãi, ảo tưởng bắt đầu xâm chiếm tâm trí họ. Sự cô lập khiến phần "người" mất dần, thay vào đó phần "con" bắt đầu trỗi dậy mạnh mẽ.


Họ bắt đầu la hét, hoảng loạn và không còn khả năng điều khiển tâm trí hay cảm xúc. Sự túng quẫn, thiếu thốn sẽ khiến họ chỉ muốn chết.
Lúc này, quản tù sẽ thả họ ra, để tù nhân khôi phục lấy lại cảm giác rồi bắt đầu thực hiện các biện pháp tra khảo tù nhân.
Tù nhân "đau đớn" đến phát điên và chỉ khát khao được chết để giải thoát chính mình. Hình minh họa.
Khi nỗi khiếp sợ tràn ngập tâm trí, họ sợ sẽ phải đối mặt với chúng một lần nữa nên nhanh chóng khai báo để không phải chịu cảnh biệt giam trắng nơi "địa ngục trần gian" khủng khiếp đó.
Hiểu được những tác động khủng khiếp của biện pháp tra tấn tinh thần này, nhiều nhà tù ở Anh, Mỹ, Iran và Nam Mỹ đã sử dụng tra tấn trắng để làm suy yếu tù nhân, bẽ gãy những mối quan hệ giữa họ với xã hội, và khiến họ mất hoàn toàn niềm tin cũng như phương hướng.
Với cách này, các nhà tù có thể khiến nạn nhân có thể "làm mọi điều" để không phải chịu đựng sự đày ải "mềm" này.
Khi đã được tự do, những tù nhân phải chịu biện pháp tra tấn tinh thần này vẫn không nguôi ám ảnh. Họ mắc chứng sợ màu trắng và không gian hẹp.
Có thể thấy, nếu những vết thương trên cơ thể có thể thành sẹo sau một thời gian thì những tra tấn tinh thần còn ám ảnh những người từng trải qua mãi không thôi, thậm chí đến hết đời.
Lý giải khoa học về màu trắng tác động lên tâm lý con người
Theo các nhà khoa học, màu trắng thường mang lại cho con người chúng ta cảm giác sạch sẽ, mát mẻ. Thậm chí, màu trắng tinh khôi còn giúp duy trì huyết áp, giúp người nổi nóng nhanh chóng cân bằng cảm xúc.


Trong cuộc, hãy biết kết hợp hài hòa các màu sắc để tạo cho chính mình không gian sống tuyệt vời nhất. 

Tuy nhiên, quá nhiều màu trắng trong một không gian hẹp và tiếp xúc màu trắng trong một thời lâu sẽ khiến người ta từ cảm thấy cô đơn, lạnh lẽo đến trầm cảm và có nhiều suy nghĩ tiêu cực.
Trong cuộc sống, màu sắc mang ý nghĩa rất nhiều đến con người, chúng ta cần biết cân bằng và kết hợp với các màu sắc hài hòa khác để giúp cuộc sống mỗi người trở nên lạc quan và yêu đời hơn.